Phân tích bài thơ “Trang giang” của Huy Cận


Các bài văn mẫu lớp 11

Phân tích bài thơ “Tràng Giang” của Huy Cận

Phân tích bài thơ “Tràng Giang” của Huy Cận

Dạy


Tràng giang là một bài thơ hay của Huy Cận, là một trong những bài thơ tiêu biểu cho phong trào Thơ mới 1932 – 1945. Tràng Giang không phải là bài thơ tả cảnh non nước, bày tỏ tình yêu quê hương đất nước. đất nước, đây là bài thơ thể hiện nỗi cô đơn, bơ vơ của con người như không còn quê hương giữa xứ người.

Nhà thơ Huy Cận cho biết bài thơ này lấy cảm hứng từ sông Hồng, sông Chèm. Vẽ khơi gợi, đó là bài thơ về nỗi buồn thế hệ, nỗi buồn không tìm được lối thoát cứ như kéo dài vô tận.

Vì vậy, nhan đề bài thơ là Tràng Giang chứ không phải Trường Giang để người đọc khỏi nhầm lẫn với sông Trường Giang, Trung Quốc. “Trường Giang” nằm trong thành ngữ “Tràng Giang đại hải” dùng để chỉ một hiện tượng bao la, bất tận. Bài thơ có bốn khổ nói lên một nỗi buồn đượm màu sắc triết lí.

Mở đầu bài thơ là cảnh sông nước mênh mông:

“Sông dài gợn sóng buồn nhắn

Thuyền xuôi mái song

Thuyền về nước lại buồn,

Củi cành khô nằm mấy dòng…”

Ngay mở đầu bài thơ bằng một hình ảnh ẩn dụ, tác giả lấy cảnh vật lăn tăn, sóng trùng điệp để nói về một nỗi buồn vô tận. Con thuyền là biểu tượng của cuộc đời lênh đênh, cô độc và bất trắc. Đặc biệt là hình ảnh con thuyền buông mái chèo, xuôi theo dòng nước nhưng thuyền và nước chỉ “song hành” với nhau, không dính mắc với nhau. Thuyền và nước lẽ ra phải gắn bó với nhau nhưng câu thơ thứ ba lại nói lên sự chia ly, buồn bã: “Thuyền về nước lại sầu”. Nước buồn như không biết trôi về đâu, tượng trưng cho kiếp người nhỏ bé, lạc lõng như một vật rất tầm thường không ai để ý:

Xem thêm: Nghị luận xã hội: Định nghĩa cuộc sống

“Củi cành khô nằm mấy dòng”.

Như vậy, cả khổ thơ đầu vẽ nên cảnh sông nước mênh mông, vô định, rời rạc, dửng dưng. Những hình ảnh song hành, buồn điệp điệp, buồn trăm phương, lạc mấy dòng, không gợi sự hội tụ, gặp gỡ mà chỉ là tán loạn, chia ly. Trên dòng sông ấy, con thuyền, nhánh trôi là hình ảnh của một kiếp người trôi dạt vô định, còn đây, con thuyền, cành khô, gợn sóng, dòng sông buồn.

Khổ thơ thứ hai nối tiếp khổ thơ thứ nhất:

“Thơ thấp và gió nhỏ thê lương,

Còn đâu tiếng làng xa còn chợ chiều

Mặt trời lặn, bầu trời thăm thẳm,

Song Long trời rộng bến vắng…”

Ồ! Một đụn cát nhỏ nên thơ, vắng vẻ, cộng với ngọn gió hiu quạnh, sao buồn như bị đời bỏ rơi. Huy Cận tìm hiểu hai chữ “đỏng đảnh” trong Chinh phụ ngâm: “Bến Phì gió thổi mấy gò” tượng trưng cho cảnh vắng vẻ, không người. Tiếng chợ chiều tan tác trên quê. Hai câu thơ cuối càng thêm sâu lắng. cảm giác bối rối: “Nắng xuống, trời thăm thẳm” gợi cảnh trời thăm thẳm khi mặt trời lặn, tạo cảm giác đối lập về độ cao. Với sông dài, trời rộng càng thêm vắng. sự cô tịch của không gian và nước.

Xem thêm: Anh (chị) hãy bàn luận về ý kiến ​​sau: “Học sinh phải kính trọng và biết ơn thầy cô giáo”


Khổ thơ thứ ba tiếp tục mạch cảm xúc bâng khuâng với cảnh vật bấu víu bất lực:

“Em trôi về đâu, hết hàng này đến hàng khác

Mênh mông không thuyền qua lại,

Không yêu cầu bất kỳ sự thân mật,

Lặng lẽ, bờ xanh gặp bãi vàng…”

Khung cảnh nối tiếp nhau: hàng bè nối tiếp hàng bè, dòng sông mênh mông không cầu, không thuyền qua lại, tạo thành một khung cảnh rời rạc, tuy sông có bờ xanh, bãi vàng. Khung cảnh trong khổ thơ như bị xé ra từng mảnh. Từ thuyền, sóng, củi, trôi đến cồn nhỏ, làng xa, chợ chiều, rồi nắng lặn, trời lên, sông dài, trời rộng, bến sông hai bên. Vạn vật không có mục đích tìm nhau, đến với nhau, cần đến nhau.

Ở khổ thơ cuối, nhà thơ đưa mạch sầu từ người vào cảnh vật:

“Tầng mây cao đùn núi bạc,

Cánh chim nhỏ trong bóng tối.

Trái tim của đất nước phồng lên với nước,

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà…”

Khung cảnh thiên nhiên rất đẹp nhưng vẫn mang vẻ hiu quạnh. Mây đùn lên núi bạc tượng trưng cho nỗi buồn chất chứa của con người. Một đôi cánh nghiêng của con chim bay dưới sức nặng của bóng tối mà đôi cánh nhỏ có thể cảm nhận được. Nỗi buồn có hình dạng và trọng lượng. Và đây, nỗi nhớ quê hương gợn lên như những con sóng trên mặt nước đầy sóng gió dâng trào. Bâng khuâng là sự xao xuyến liên tục, nhiều lần đáp lại hai từ “điệp ngữ” ở dòng đầu bài thơ; Chính vì thế mà nhà thơ buồn khi thấy người đọc, đọc là “rợn” hay “rớt” làm mất đi ý tứ của câu thơ.

Xem thêm: Em có suy nghĩ gì về hiện tượng môi trường bị suy thoái nghiêm trọng ở nước ta hiện nay?

Từ “tuyệt sắc” và ý thơ gợi cho ta hai câu cảm xúc của nàng Kiều:

“Bốn phương mây trắng một màu,

Hình như cố hương biết đâu là nhà?”

Nỗi nhớ được gợi lên từ cảnh sắc của dòng sông, từ làn mây trắng, từ cánh chim chiều, từ làn nước. Và nhà thơ kết thúc bài thơ bằng câu: “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà…”. Nhà thơ cho rằng lấy ý hai câu thơ của Thôi Hiệu:

“Quê hương khuất bóng hoàng hôn,

Trên sông khói sóng buồn ai”.

Tràng Giang là một bài thơ đẹp nhưng buồn, câu nào cũng buồn. Nhưng nỗi buồn lại được dẫn vào một cảnh đẹp muôn màu (núi bạc, bờ xanh, bãi vàng) nhiều đường nét tráng lệ mở ra, bất tận (buồn điệp trùng, thăm thẳm, sông dài, trời rộng…) nhiều động từ có sức sống, như gợn sóng , mây đùn lên, thuyền về, nước về, nắng xuống, trời lên…!

Bao trùm cả bài thơ là một nỗi buồn lan tỏa và thấm thía. Không buồn vì cảnh vật nhạt nhòa, không gian bị gò bó, chật chội. Đó là nỗi buồn của kiếp người nhỏ bé, hữu hạn trước cái vô biên, vô cùng, vô tận. “Tràng Giang” đã kết hợp hài hòa giữa nét cổ điển của thơ Đường với vẻ hiện đại của thơ mới. Đoạn thơ đã bộc lộ nỗi niềm của một trái tim cô đơn. Một cái “tôi” trữ tình thống nhất với muôn vàn mối dây đứt gãy để thay thế một xã hội đô thị với vô số những cái “tôi” rời rạc, bơ vơ, mang nỗi buồn lớn của thời đại.

Thu Trang


Bạn thấy bài viết Phân tích bài thơ “Trang giang” của Huy Cận có giải quyết đươc vấn đề bạn tìm hiểu không?

Cám ơn bạn đã ghé thăm Website Trường Họa Mi

Chuyên mục: Văn Mẫu Lớp 11

Nguồn: Họa Mi

Related Articles

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Back to top button