Nghị luận văn học: Phân tích bài thơ Thương vợ của tác giả Trần Tế Xương


Các bài văn mẫu lớp 11

Chuyên luận văn học: Phân tích bài thơ Thương vợ của tác giả Trần Tế Xương

Chuyên luận văn học: Phân tích bài thơ Thương vợ của tác giả Trần Tế Xương

Hướng dẫn


Trần Tế Xương là một nhà thơ người Nam Định, sinh ra trong thời buổi đầy biến động khi nhà Nguyên suy vi nặng nề, đất nước bị lệ thuộc, nhân dân chịu bao điều tiếng. thấy được điều đó đã hình thành nên một con người thẳng thắn, trung thực dám đánh thẳng vào mặt tối của xã hội đương thời qua những tác phẩm thơ thuộc dòng trào phúng, trữ tình đã trở thành bất hủ, với giọng điệu châm biếm khinh bỉ. Cay đắng xen lẫn trong đó là nỗi đau xuyên qua từng giọt nước mắt. Và bài thơ “Thương vợ” với thể thất ngôn bát cú là tiêu biểu cho những sáng tác giàu chất trữ tình của ông được viết từ thể thất ngôn tứ tuyệt. tình yêu thương xót xa mà anh dành cho người vợ của mình.

Quanh năm buôn bán trên sông mẹ

Có chồng hờ hững cũng như không.

Cuộc đời nhà thơ gặp nhiều thất bại trên đường danh lợi, phải ở nhà nhìn người vợ thân yêu của mình ngày ngày làm lụng vất vả để nuôi chồng con, dẫu đau đớn tủi nhục cũng đành bất lực và nay nhà thơ đã ra đi. Giờ tôi chỉ biết gửi gắm tình cảm của mình qua những vần thơ có hình ảnh người vợ trong đó

Quanh năm buôn bán trên sông mẹ

Nuôi năm đứa con với một người chồng

Qua sự quan sát, nhà thơ thấy được những vất vả mà người bà phải chịu đựng. Mang danh nghĩa bà nhưng hàng ngày chị phải buôn bán trong không gian chật hẹp “mom sông” quanh năm, những vất vả đang oằn lên đôi vai của người vợ. Hình ảnh người phụ nữ cần mẫn buôn bán, buôn bán cũng vì chồng con, sự hy sinh đó thật cao cả và đáng quý bởi tình cảm gia đình rất thiêng liêng luôn hiện hữu trong trái tim chị. Dù mệt nhọc, gian khổ nhưng trách nhiệm vẫn hoàn thành khi “đủ” năm chồng con. Gánh nặng đó quá lớn. Thấu hiểu và cảm phục tấm lòng của chị, anh tự mỉa mai mình khi đặt chồng chị ngang hàng với đứa con thứ 6, khinh bỉ bản thân vì suốt ngày sống dựa dẫm. Xấu hổ và tia. Giận là trạng thái xuất hiện khiến ông bối rối khi không khỏi trăn trở, vất vả đó cho vợ, nên không biết nàng biến thành con cò trong thơ Ông Tử từ lúc nào, là hình ảnh gì. Những bức ảnh dân gian khá quen thuộc để thêm phần đấu tranh bền bỉ

Xem thêm: Phân tích đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh – Lê Hữu Trác

Lặn biển khi không có cò

Mặt nước thuyền đông

Thủ pháp nghệ thuật ẩn dụ gợi lên nỗi đau thân phận mà thân cò phải day dứt theo thời gian, giống như người bà đang nếm trải những đắng cay của gian khổ, chôn vùi thân phận của mình trong “hư không” đôi khi nỗi cô đơn thấp thoáng. bao trùm với nỗi buồn. Chữ “lặn lội” là những gì gói gọn trong đó là những gì gian khổ nhất, khó khăn nhất khiến chị phải bươn chải qua những tháng ngày. “Tránh” đối lập với “Chiếc thuyền đông” diễn tả không gian xung quanh bà Tú theo dòng thời gian gấp gáp, có lúc dằn vặt trong cô đơn buồn tủi, có lúc rộn ràng bao lời tiếng sỉ vả khi đò đông chật ních. để nhanh chóng mặc cả và tìm thức ăn để ăn không chỉ cho chính mình, nó giống như

“con cò bơi bên ao

Vác cơm cho chồng khóc”

Còn bà Tú, tuy mệt nhọc vì gồng gánh gánh vác gia đình nhưng bà không bao giờ kêu ca hay phàn nàn, không một lời than vãn như tiếng kêu khe khẽ của con cò, dường như nỗi buồn đã được dập tắt bởi đức hi sinh. là một trái tim chan chứa yêu thương khiến cho sự đồng cảm, xót thương trào dâng trong tâm trí nhà thơ. Số phận của người bà lúc này xoay quanh vòng đời ngược xuôi cố gắng tìm kiếm thứ gì có thể nuôi sống gia đình mình trong tương lai. Có một người chồng bất tài. Đoạn thơ này sử dụng nhuần nhuyễn những hình ảnh dân gian và phép đảo ngữ để tạo nên một giọng thơ buồn man mác, day dứt.. Những hình ảnh ấy của bà Tú đã khơi dậy trong lòng bà Tú cảm giác xót xa. niềm xót thương vô hạn, bên cạnh đó là lòng biết ơn và sự tri ân đến bà


Theo những câu thơ giàu hình ảnh ấy, nhà thơ xuôi theo dòng suy nghĩ

Xem thêm: Sự khác biệt giữa 3 bài thơ sưu tầm của Nguyễn Khuyến

Một duyên hai duyên

Năm nắng mưa dám quản công

Thành ngữ “một duyên hai nợ” được nhà thơ dùng để diễn tả cuộc hôn nhân của ông Tú và bà Tú. Lấy nhau là chuyện hạnh phúc nhưng duyên thì chỉ có 1 mà nợ thì đến 2. chịu muôn vàn khổ cực, hạnh phúc từ người chồng quá ít ỏi. Tuy nhiên, “mệnh” vì là bổn phận là trách nhiệm, người đẹp trong lòng cũng là biết chịu thương, chịu khó và chịu đựng. Thành ngữ “năm nắng ngày mưa” đan xen với sự cần cù, gian khổ, lao động quanh năm nắng mưa, có lúc muốn héo úa dưới cái nắng trưa hè oi ả, có lúc quá lạnh. Dưới cơn mưa đầu mùa không ngớt, nhưng đôi khi cô lại nản lòng và than vãn. Bởi những khó khăn, thử thách không đủ làm mờ đi tình yêu thương gia đình chồng, con cái trong chị. Mệt mỏi vì những điều đó, người chồng tưởng chừng là nơi nương tựa lại trở thành chiếc bóng lặng lẽ nhìn những khó khăn của vợ, anh như vô tình gửi gánh nặng lên vai vợ mà suốt ngày hưởng thụ. lạc lối và bận rộn vui chơi

“Biết thuốc lá, biết trà Tàu

Cao Lầu biết mùi vị của hoa hồng, Cao Lầu cũng biết mùi.”

Trước mắt người đọc, đồng thời cũng phản ánh một sự bất công trong gia đình giữa xã hội phong kiến ​​ấy, hình ảnh bà Tú là tấm gương cho hầu hết những người mẹ, người vợ cần cù lao động, vắt kiệt sức lực. Ra đường gánh vác trách nhiệm, đôi vai nhỏ bé phải chiến đấu với nắng sương hàng ngày, nhưng người chồng như ông chủ chỉ chờ được quan tâm chăm sóc rồi ra đường vui chơi, ít người nhìn thấu hiểu. những thứ này. những gì người vợ đang cố gắng hết sức để xây dựng, họ luôn hy vọng GD sẽ là nơi nương tựa của họ và họ yêu anh ấy hết lòng vì lẽ đơn giản đó, nhưng dù không trốn tránh trách nhiệm, dù đã trải qua rất nhiều, họ vẫn không trốn tránh trách nhiệm của họ. Ông Tú là một trong những người chồng như vậy, nhưng ở đây tư tưởng của ông tiến bộ hơn, ông thấy và biết thế nào là khó khăn, vất vả, thấy được sự hy sinh cao cả của người vợ, người chồng. thẳng vào thơ ông với một thái độ hết sức trân trọng. Thấy vậy và nhìn lại những gì mình đã làm dc, anh chợt tự trách mình.

Xem thêm: Nhiều người cho rằng từ “hồng” là nhãn từ bài thơ Đến (ăn tối) của Hồ Chí Minh. Bạn có đồng ý với điều đó không? Mời các bạn cho ý kiến, phân tích để làm rõ

Cha mẹ sống một đời bạc

Có chồng hờ hững hay không?

Buông lời tự trách mình quá bất tài nhu nhược chẳng khác nào kẻ nhu nhược là gánh nặng trên vai vợ, tự chửi mình vô dụng, rồi chửi thẳng vào đời, mang cho mình bao cay đắng. Thật cay, thật đắng. Thấy vật chất trên vai của vợ mà không thể làm gì gánh nổi, nỗi ân hận, tủi nhục ngập tràn trong hai câu thơ. Không chỉ vậy, phản ứng mạnh mẽ của Tư Bốn còn nhằm thẳng vào cái xã hội đang đè nén hạnh phúc, bóc lột sức lao động, trói buộc phụ nữ trong những quy định lễ giáo hà khắc, lạc hậu. Sự chân thành xuất phát từ trái tim để rồi đến sự giễu cợt sự vô tích sự của bản thân, khiến giọng điệu của ông như trào phúng, dở khóc dở cười. Nét độc đáo trong bài thơ này là hình ảnh người phụ nữ hóa thân thành con cò gợi nhiều thương cảm. Bài thơ thành công trong việc xây dựng một hình tượng mới lạ, bất ngờ, đưa người phụ nữ vào thơ là một nét đặc sắc của bài thơ. tiến bộ trong âm tiết Tú ​​Xương. Cách sử dụng ngôn ngữ tự nhiên, biểu cảm, sử dụng cách nói dân gian.

Giọng thơ trong bài Thương vợ chan chứa một sự cảm thông sâu sắc, chân thành dành cho vợ. Hình ảnh bà Tú chiếm được cảm tình của biết bao người đọc thơ Tư Bốn. Bằng tất cả tình yêu thương, kính trọng, ông đã khéo léo gửi gắm người vợ trong thơ ông, đó cũng chính là niềm vui bù đắp cho bao tháng ngày vất vả.Tâm sự về những hoài nghi, lo lắng về thân phận của nhiều người long đong trong thi trường.Thư giãn trong từng câu thơ, qua đó cảm nhận cái hay cái đẹp dần dần thấm vào tâm trí người đọc.

trăng sáng


Bạn thấy bài viết Nghị luận văn học: Phân tích bài thơ Thương vợ của tác giả Trần Tế Xương có giải quyết đươc vấn đề bạn tìm hiểu không?

Cám ơn bạn đã ghé thăm Website Trường Họa Mi

Chuyên mục: Văn Mẫu Lớp 11

Nguồn: Họa Mi

Related Articles

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Back to top button