MS260 – Phân tích tác phẩm Vợ chồng A Phủ của tác giả Tô Hoài

Dàn ý chi tiết


1. Mở bài

Nhà văn Tô Hoài nổi tiếng với thể loại văn xuôi. Đặc biệt là tác phẩm “dế mèn phiêu lưu ký”. Là một nhà văn lớn của dân tộc với kho tàng truyện ngắn đạt kỷ lục của Việt Nam

Tác phẩm “Vợ chồng A phủ” được trích ra trong tập “Truyện Tây Bắc” đã từng đoạt giải nhất – giải thưởng của hội văn nghệ Việt Nam 1954-1955.

Với lối kể chuyện gần gũi, giản dị. Khai thác những nét đẹp, nét độc đáo của đời thường để đưa vào những tác phẩm của mình một cách nhân văn và nghệ thuật. Đó cũng chính là lý do những tác phẩm của Tô Hoài ghi dấu sâu sắc trong lòng các độc giả.

2. Thân bài

Chế độ phong kiến miền núi cùng tập tục lạc hậu đã giết dần giết mòn tinh thần của một con người. Mị và A Phủ chính là nhân vật điển hình bị chế độ phong kiến miền núi áp bức cho đến sức cùng lực kiệt.

  • Tục bắt vợ, khiến cho Mị không thể đến với người mình yêu. Phải trở thành vợ bất đắc dĩ của A Sử. suốt cuộc đời sống không có tình yêu.
  • Tục lệ cưới hỏi rườm rà và tốn kém: Người nào muốn cưới thì phải có tiền đãi ăn cho các quan lại. gia đình phải còn đủ cha mẹ, phải có ruộng nương, và phải có tiền nhiều. chính vì tục lệ cổ hủ này mà bố mẹ Mị mắc nợ từ đời bố mẹ đến đời con mà không trả nổi. Chính vì lý do này mà A Phủ không thể lấy vợ.
  • Xử kiện không công bằng: xử kiện bằng cách đánh đập tàn nhẫn A Phủ, chỉ vì A Phủ dám đánh vỡ đầu con của quan. Đánh đập xong thì kéo nhau hút thuốc phiện. Kéo dài phiên kiện đến mấy ngày đêm. cuối cùng còn phải bỏ tiền cho đám quan lại ăn nhậu và hút thuốc còn người có tội như A Phủ vừa bị đập thừa sống thiếu chết vừa phải mang một đống nợ cho nhà Thống lý.
  • Người phụ nữ không được coi trọng, lấy chồng rồi thì cả đời phải đi sau con ngựa của chồng. Chồng có thể năm thê bảy thiếp nhưng vợ thì chỉ có thể chôn một đời với người chồng dù không hạnh phúc. Dù bị coi không khác gì con vật. Nếu có bị chồng hành hạ đến chết thì cũng không ai quan tâm.

Cả Mị và A Phủ ban đầu được sinh ra và lớn lên đều là những con người thông minh, hoạt bát và nhanh nhẹn nhưng chính vì bị những hủ tục lạc hậu, bị gia đình Thống Lý áp bức nên cả hai dần dần trở thành nô lệ, dần dần tinh thần chẳng khác nào con trâu, con ngựa của nhà Thống Lý. Không còn ý chí phản kháng, sống một cách cam chịu và an phận.

Mị và A Phủ tuy đã bị chế độ phong kiến thối nát làm cho mụ mị nhưng tinh thần quật khởi, tinh thần chiến đấu trong hai con người này luôn luôn được nhen nhóm.

  • mặc cho chồng có đánh có trói thì Mị vẫn muốn được tự do khi mùa xuân đến: “Mị còn trẻ, Mị muốn đi chơi”,
  • Khi thấy A Phủ bị trói, Mị thương cho người dưng chẳng có lý do gì cũng bị ép chết dưới tay của nhà thống lý. Nàng còn nghĩ xa xôi được rằng nếu A Phủ cởi được trói và chạy mất thì nàng cũng không thể tránh được liên lụy, nhưng khi nghĩ đến điều đó nàng lại không hề sợ hãi mà đã liều lĩnh cắt đứt dây trói cho A Phủ chạy trốn. Mị đã là dâu của nhà Thống Lý, trọn đời trọn kiếp không thể thay đổi số phận này, nhưng nàng lại có thể cứu sống và thay đổi số phận của một người khác. Chính điều đó khiến nàng càng thêm quyết tâm cứu sống A Phủ.

3. Kết bài

Bằng cách sử dụng ngôn ngữ địa phương, lối kể đậm đà bản sắc dân tộc vùng Tây Bắc khiến không gian truyện rất chân thật. Khiến người đọc cảm thấy như thể những nhân vật trong câu chuyện hoàn toàn có thật

Tôi Hoài luôn khai thác những đề tài gần với đời sống, tuy thô nhưng thật. Ông không quen ca tụng tung hô những cái đẹp như những tác giả khác mà chọn cho mình một con đường tìm ra những điều chưa tốt chưa đẹp của xã hội để phơi lên mặt chữ.

Truyện tố cáo bộ mặt thật của chế độ phong kiến thối nát của dân tộc miền núi phía bắc, cùng những hủ tục lạc hậu. Qua đó chứng minh cho chúng ta thấy rằng con người chúng ta luôn có một ý chí nằm sâu trong tiềm thức không một thế lực nào có thể dập tắt. Chỉ là chưa đến lúc ý chí ấy biết thành hành động hay chưa.

Bài văn tham khảo

Khi người ta nhắc đến Tô Hoài thì phải kể đến truyện Dế Mèn Phiêu Lưu Ký. Với một nhà văn đại tài với kho tàng truyện ngắn đạt kỷ lục của Việt Nam thì nhà văn Tô Hoài không chỉ để lại dấu ấn trong lòng độc giả với một truyện ngắn Dế mèn Phiêu Lưu Ký mà bên cạnh đó còn rất rất nhiều tập truyện ngắn khác đã đi sâu vào đời sống và vào kí ức của nhiều thế hệ người yêu văn chương.

>> Xem thêm:  Tả cái bài học của em ở nhà

Trong những tập truyện tiêu biểu của mình thì có lẽ tập Truyện Tây Bắc là để lại nhiều cảm xúc cho người đọc nhất. Với lối kể chuyện gần gũi, giản dị. Khai thác những nét đẹp, nét độc đáo của đời thường để đưa vào những tác phẩm của mình một cách nhân văn và nghệ thuật. Đó cũng chính là lý do những tác phẩm của Tô Hoài ghi dấu sâu sắc trong lòng các độc giả. Trong tập Truyện Tây Bắc có tác phẩm “Vợ Chồng A Phủ” là nổi bật nhất và đã được đưa vào chương trình trung học phổ thông bởi tính nhân văn của nó.

Điều làm nên thành công của tác phẩm Vợ Chồng A Phủ chính là cách nó phản ánh quá chân thực bộ máy lãnh đạo của chế độ phong kiến miền núi thối nát. Bằng những hiểu biết của mình Tô Hoài đã cho người đọc biết đến những tập tục lạc hậu của những dân tộc miền núi phía Bắc như tục bắt vợ, tục xử kiện, tục cưới hỏi, số phận người phụ nữ khi lấy chồng,…

Trong tác phẩm “Vợ Chồng A Phủ” tục bắt vợ được xây dựng rất chi tiết và sinh động. Những đêm tìm mùa xuân trai gái đợi nhau và gọi nhau bằng tiếng khèn, tiếng kèn lá. Đám trai làng dập dìu bên vách buồng nhà người yêu. Những người thương nhau sẽ dỡ vách ra đón nhau vào rừng trò chuyện. Nhưng tục lệ bắt vợ này cũng là cái cớ để cho những kẻ thích chinh phục làm càn, tiêu biểu trong câu chuyện của Tô Hoài chính là nhân vật A Sử. Nhân vật A Sử ỷ thế mình là con quan nên ngang tàng hống hách. Tuy Mỵ không hề yêu thương A Sử nhưng cũng bắt Mỵ về cho bằng được. Và một khi người con gái bị bắt về nhà người con trai thì coi như không còn cơ hội lựa chọn nữa. Mị đã trở thành vợ của A Sử một cách đau đớn như thế. Hôn nhân không có tình yêu thì khó tìm được hạnh phúc, hơn nữa A Sử chỉ đơn thuần cướp Mị về để thỏa mãn cái tôi của đàn ông, thỏa mãn tính chinh phục của hắn.

Không chỉ có cách chọn vợ gả chồng đầy may rủi và đầy ép buộc, tục lệ cưới hỏi cũng vô cùng khắt khe khiến cho rất nhiều người khốn đốn. Nạn nhân đáng thương cho những tục lệ cưới hỏi tốn kém khắt khe đó chính là bố mẹ của Mị. Họ mang nợ Thống Lý một khoản vay cưới từ ngày hai người quyết định về với nhau thành vợ chồng. Nhưng món nợ ấy không biết lớn đến bao nhiêu để mỗi năm phải trả một nương ngô cho nhà Thống Lý nhưng đến khi về già, đến khi con gái có thể dựng vợ gả chồng rồi vẫn chưa trả hết.

Nạn nhân tiếp theo của tục lệ cưới hỏi khắc nghiệt, tốn kém đó chính là A Phủ. Một chàng trai hiền lành chất phác và là niềm mơ ước của bao cô gái. Nhưng chàng trai ấy lại không bao giờ có thể lấy vợ chỉ vì chàng là trẻ mồ côi không còn cha mẹ.  Chàng không có ruộng nương và cũng chẳng có tiền để cưới vợ. Một người tốt tính, tốt nết đến thế thì không thể lấy vợ, còn một người xấu xa, cơ hội như A Sử thì lại năm thê bảy thiếp. Sự bất bình đẳng trong sự cai trị của chế độ phong kiến khiến cho người xấu thì được hưởng điều tốt đẹp, được đạp lên đầu lên cổ người khác. Còn người tốt thì bị chà đạp đến tầng đáy của xã hội.


Khi người ta nói về tính cách của những người đồng bào dân tộc miền núi phía Bắc, họ luôn ca tụng sự chính trực, thẳng thắn, sống chân thật, chịu thương chịu khó. Đối với Tô Hoài, người dân tộc Tây Bắc cũng dễ mến như vậy. Nhân vật Mị được tác giả xây dựng tuy có một phần bi kịch nhưng cô ấy vẫn là hình mẫu điển hình cho những người con gái Tây Bắc với vẻ đẹp mặn mà. Vẻ đẹp không chỉ là khuôn mặt khả ái, thắt đáy lưng ong mà còn là đôi tay khéo léo, tính tình hiền hòa, chịu thương chịu khó. Mị là một cô gái không chỉ có tài thổi sáo, thổi kèn khiến trai làng theo chân suốt mấy quãng đồi, mà còn là một cô gái không ngại khó khăn khổ cực. Vì hạnh phúc riêng của mình cô chấp nhận làm việc không ngại mệt mỏi. Khi bị Thông Lý gả bán để gạt nợ cho cha mẹ, nàng đã cầu xin được ở lại bên cha mẹ, sẵn sàng làm nương để có thể trả nợ cho Thống Lý.

>> Xem thêm:  Bình giảng về bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh – Văn mẫu lớp 12 tuyển chọn

Mị không chỉ là cô gái biết nghĩ cho bản thân mình, biết nghĩ cho hạnh phúc riêng của mình mà Mị còn là người con gái hiếu thảo. Khi bị bắt gả cho nhà Thống Lý, nàng không chịu được sự bất công, không thể bên cạnh người mà mình không yêu nên nàng đã có ý định ăn lá ngón tự sát. Nhưng khi trốn về nhà để từ biệt cha mình lần cuối nàng đã nghĩ đến cuộc sống sau này của cha rồi sẽ muôn vàn khổ cực nếu nàng chết đi. Người chết rồi nhưng nợ của người sống vẫn còn đó. Vì không muốn cha mình già rồi còn bị Thống Lý chèn ép nên nàng đành cắn răng chịu đựng trở thành vợ A Sử. Ở chi tiết này chúng ta có thể thấy sự hiếu thảo của Mị giống với nhân vật Kiều của đại thi hào Nguyễn Du. Nếu Kiều bán mình để chuộc cha thì Mị cũng đang bán mình để đổi lấy cuộc sống bình yên hơn cho cha mình.

Một cô gái xinh đẹp và có quá nhiều đức tính tốt đẹp ấy đã trở nên lầm lũi, vô cảm, sống không ý chí chỉ bởi vì một cuộc hôn nhân không hạnh phúc, chỉ vì một chế độ người có tiền trở thành thánh nhân được làm bất cứ điều gì mình muốn. Bây giờ mình chỉ sống để làm sao đừng chết đau chết đớn trong nhà thống lý chứ không còn ước mơ được hưởng hạnh phúc.

Sự tàn ác của bàn tay cai trị phong kiến không chỉ là đẩy con người ta vào chỗ khốn cùng mà là khi người ta ở nơi khốn cùng rồi thì bàn tay ấy vẫn cố ghì đầu ghì cổ người ta xuống sát đáy bùn. Mị đã chấp nhận số phận, đã chịu trở thành “ma nhà thống lý” rồi nhưng vẫn không được yên ổn vẫn không thể giữ được cho mình một niềm vui sống cuối cùng. Mùa xuân đến, cái mùa mà khiến lòng người tự nhiên vui lại, phơi phới hơn. Mị cũng thế, cũng bị vẻ tươi vui của mùa xuân bên ngoài cánh cửa nhà thống lý làm cho mê mẩn. Nàng là một cô gái còn rất trẻ, còn chưa một lần trọn vẹn yêu đương đã bị trói chân ở cột nhà thống lý. Nàng thèm được đi chơi, được thổi sáo, đánh pao như cái tuổi trẻ đáng lẽ phải đến với nàng. Hành động lấy hũ rượu uống ực từng bát của nàng mang một vẻ đẹp đường thi đến lạ. Chúng ta dường như đang thấy một trang nam tử đang chất chồng tâm sự mượn rượu giải sầu chứ không phải là một tiểu cô nương vì đau buồn mà ôm đàn khóc. Qua đây chúng ta cũng thấy được rằng người con gái Tây Bắc có một nét đẹp vừa táo bạo vừa độc đáo đến thế. Nàng uống rượu ực từng bát như thể đang nuốt vào những căm hận số phận, như đang nuốt những cay đắng của cuộc đời. Chính mùa xuân tươi đẹp ấy đã khiến một mầm xanh đang héo rũ trong lòng người thiếu nữ một lần nữa bừng tỉnh và khiến nàng liều lĩnh đứng dậy sẵn sàng bước ra cánh cửa để đi chơi xuân. Nhưng rồi A Sử lại là người sẵn sàng vùi dập niềm vui bé nhỏ của nàng bằng một trận đòn thắt lưng đau như cắt. Rồi hắn trói nàng vào cột nhà, không cho nàng cựa nổi mình. Nàng bị trói và bỏ mặc suốt mấy ngày liền mà A Sử không hề dòm ngó vẫn cứ bỏ mặc nàng trong đau đớn thập tử nhất sinh. Khi cận kề cái chết, khi nghĩ đến cái chết của người chị dâu bị trói đứng như nàng trước đây thì nàng tự ngộ ra rằng không ai trên đời này có thể cảm thông cho nàng, không còn ai có thể cứu được mạng của nàng ngoài bản thân nàng. Và nếu nàng còn muốn sống, nếu nàng còn muốn được sống thì nàng không thể nghĩ về tự do, không thể nghĩ về tương lai tốt đẹp nữa. Nàng phải sống cam chịu và an phận còn hơn con ngựa đang đứng bên cạnh vách buồng nàng. Cuối cùng thì mầm non hy vọng cuối cùng trong lòng nàng cũng bị A Sử dẫm nát.

Bên cạnh nhân vật nữ đặc sắc thì nhân vật A Phủ cũng là một hình ảnh đặc trưng cho những thanh niên miền núi Tây Bắc vô cùng hiền lành, chất phác. Chàng được miêu tả với một số phận còn bi kịch hơn cả Mị. Mị còn có cha có mẹ để yêu thương còn chàng thì sinh ra đã chứng kiến gia đình chết đi vì bệnh dịch, một mình lang bạt khắp nơi, bị người ta bán đi như một món hàng. Nhưng chàng cũng không phải là một chàng trai chấp nhận số phận và cũng là một người không sợ hãi khi đứng trước những điều chướng tai gai mắt. thuở nhỏ chàng không cam chịu làm nô lệ, đã tự mình trốn về miền ngược để được sống thật với tính cách của mình. Lúc trưởng thành chàng cũng không kiêng sợ bọn cường hào ác bá, thấy điều gai  mắt chàng sẵn sàng đánh cả con của nhà giàu mặc cho hậu quả có đau đớn bao nhiêu.

>> Xem thêm:  Dẫn chứng về tình bạn đẹp trong cuộc sống

Vì đánh con quan, chàng bị ép uổng và trở thành nô lệ cho nhà thống lý. Chàng không sợ khó, không sợ khổ. Không bao giờ khóc lóc đôi co với bọn cường hào ác bá ấy. Qua tình huống truyện này còn cho chúng ta thấy thêm một mặt xấu nữa của chế độ cai trị của các dân tộc miền núi phía Bắc. Họ xử kiện bằng cách hút thuốc phiện liền mấy ngày đêm. Hết hút lại đánh, chẳng một lời tra hỏi hay tìm ra công lý. Khi đã ăn no hút say thì chúng biến người có tội trở thành nô lệ.

Tính cách gan góc ấy vẫn còn trong máu chàng dù chàng đã trở thành nô lệ cho nhà thống lý. Khi đi rừng gặp hổ bắt mất bò chàng cũng không sợ, mà quay về tìm súng mong có thể bắt được hổ lập công. Nhưng nhà thống lý đã không còn muốn chàng sống, hắn bắt chàng trói sống ngoài sân, bắt chàng tự mình chôn cọc, lấy dây để trói mình. Chàng không run sợ trước cực hình, tự mình đào cọc trói mình một cách lạnh lùng và quyết đoán. Hình ảnh chàng tự tay lấy dây lấy cọc để trói mình như một hình ảnh đẹp của người anh hùng coi thường cái chết.

Cả Mị và A Phủ hai người không thân thích đã gặp nhau ở một tình huống đắng cay như vậy. Cả hai đều là nạn nhân đáng thương của cái xã hội thối nát ấy. Cả hai đều đã đánh mất chính mình vì sự sống. Xã hội này dường như muốn tất cả những người nghèo đều phải chết, còn nếu sống thì cũng như đã chết. Cuộc đời cay đắng biến Mị trở thành cô gái nhìn thấy một người bị trói sắp chết nơi xó bếp cũng không mảy may thương xót. Nàng vẫn bình thản hằng ngày đến bếp hơ tay hơ chân, nàng sống như thể đã mù mắt, mù lương tâm. Còn A Phủ, người được miêu tả từ đầu đến cuối câu chuyện chưa bao giờ biết sợ cuối cùng đã khóc. Người ta nói đàn ông không bao giờ khóc và một khi họ khóc thì đó chính là lúc họ ở tột cùng của nỗi đau khổ. Và cũng vì dòng nước mắt ấy của A Phủ đã đánh thức lại một chút lương tâm sót lại trong trái tim Mị.

Mặc dù Mị biết nếu để A Phủ chạy thoát thì Mị cũng khó sống với nhà thống lý nhưng Mị lại chẳng sợ cái chết ấy. Bởi vốn dĩ Mị đã chết từ lâu rồi, từ ngày làm vợ A Sử. Khi nhìn thấy một sinh mạng đứng giữa ranh giới của sự sống và cái chết, khi nhìn thấy dòng nước mắt của người đàn ông mạnh mẽ rơi xuống thì tình thương người, sự mong muốn được giải thoát đã nhen nhóm trở lại trong lòng nàng. Nàng liều mình cắt đứt dây thừng trói A Phủ như tự mình cắt đi sợi dây xiềng xích trói buộc một đời người dân cùng khổ như nàng. Và cũng chính hành động phản kháng liều lĩnh ấy của nàng không chỉ cứu được mạng sống của một thanh niên vô tội mà còn mở đường cứu sống cuộc đời tăm tối của nàng. Trong đêm tối, hai người lao đi không một giây chùn bước, có lẽ vì sợ hãi nhưng cũng là vì ánh sáng tự do trong mắt cả hai đủ cho họ thấy rõ con đường tăm tối trước mặt đáng để dấn thân vào. Bởi chỉ cần dừng lại, chỉ cần chùn bước thì phía sau lưng họ bóng tối và thế lực phong kiến thối nát sẽ nuốt chửng họ.

Bằng cách sử dụng ngôn ngữ địa phương, lối kể đậm đà bản sắc dân tộc vùng Tây Bắc khiến không gian truyện rất chân thật. Khiến người đọc cảm thấy như thể những nhân vật trong câu chuyện hoàn toàn có thật

Tô Hoài luôn khai thác những đề tài gần với đời sống, tuy thô nhưng thật. Ông không quen ca tụng tung hô những cái đẹp như những tác giả khác mà chọn cho mình một con đường tìm ra những điều chưa tốt chưa đẹp của xã hội để phơi lên mặt chữ.

Truyện tố cáo bộ mặt thật của chế độ phong kiến thối nát của dân tộc miền núi phía bắc, cùng những hủ tục lạc hậu. Qua đó chứng minh cho chúng ta thấy rằng con người chúng ta luôn có một ý chí nằm sâu trong tiềm thức không một thế lực nào có thể dập tắt. Chỉ là chưa đến lúc ý chí ấy biết thành hành động hay chưa.

Nguyễn Thị Yến


Nguồn bài viết: MS260 – Phân tích tác phẩm Vợ chồng A Phủ của tác giả Tô Hoài Tại: Hoami.edu.vn

Chuyên Mục Văn Mẫu Lớp 12

Xem Thêm:   Soạn bài Văn bản tổng kết lớp 12 đầy đủ hay nhất